Hiện tại ở nước ta có dự án thu hồi khí bãi rác và phát điện tại bãi chôn lấp rác Đông Thạnh và Phước Hiệp 1, TP.Hồ Chí Minh và  dự án Thu hồi, xử lý khí sinh học và tái tạo năng lượng đối với hệ thống xử lý nước thải và chất thải rắn sinh hoạt tại Khu công nghiệp Tây Bắc, Củ Chi nhưng hiệu quả thu khí sinh học của bãi chôn lấp  ít hơn nhiều so với quá trình lên men mêtan vì thời gian phân hủy chất thải rắn trong bãi chôn lấp mất thời gian rất lâu trong khi lên men mêtan chỉ vài tuần với vi sinh phân hủy chất hữu cơ Aquaclean.

Nghiên cứu đầu tiên liên quan đến phân hủy k khí chất thải hữu cơ theo công nghệ thu hồi biogas được thực hiện vào thế kỷ 17 (năm 1808) bởi Robert Boyle và Stephen Hale. Đến 1808; Humphry Davy đã xác định rằng metan hiện diện trong thành phần khí sinh học từ quá trình phân hủy phân chuồng. vào 1859, bể phân hủy sinh học kị khí đầu tiên được xây dựng tại Ấn Độ (bombay); kế tiếp hàng loạt các ứng dụng xử lý kị khí chất thải hữu cơ, thu hồi metan ra đời. Điển hình là tại Mỹ, hơn 51 dự án về khí mêtan tại các bãi chôn lấp chất thải đang được thực hiện ở 3 bang, 7 dự án đang được xây dựng và 23 dự án đã kết thúc.

Hiện tại ở Việt Nam, công nghệ kỵ khí ứng dụng để xử lý sinh học chất thải rắn vẫn chưa phát triển ở quy mô lớn do chi phí đầu tư cao, trang thiết bị đắt tiền, kĩ thuật vận hành phức tạp đòi hỏi chuyên môn. Rác thải ở Việt Nam được xử lý chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp, đốt, ủ compost.

Điểm khác biệt của công nghệ  định hướng nghiên cứu trong đề tài và công nghệ đã phổ biến trên thế giới là áp dụng giai đoạn thủy phân và giai đoạn metan hóa. Riêng quá trình metan hóa được thực hiện  trên hệ thống Hybrid kị khí cao tải  (USBF) nhằm tăng hiệu quả thu hồi khí metan phục vụ cho nhu cầu phát điện.

Từ năm 2005 – 2009. Nhóm tác giả  (Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Thị Thanh Phượng) đã nghiên cứu xử lý chất thải lỏng ô nhiễm hữu cơ cao (nước thải tinh bột mì, nước thải cồn rượu) bằng hệ thống sinh học kị khí USBF. Kết quả nghiên cứu đã xác định hiệu quả xử lý COD lên đến 98% (nước thải tinh bột mì); 85% (nước thải cồn) và tải trọng hữu cơ có khả năng lên đến 12 – 15 kg COD/m3.ngày và lượng khí CH4 thu hồi được là 0,246 – 0,359 m3/ kg COD . Nếu so với hai hệ sinh học kị khí thông thường như UASB hoặc AF thì hệ USBF đạt hiệu quả xử lý thành phần hữu cơ cao hơn 7 – 15%. Điểm đáng lưu ý là hệ thống dễ thích nghi, mật độ vi sinh tốt và không có hiện tượng trào bùn, thất thoát vi sinh khi có biến động về đặc tính nguồn thải.